Thời Cắp Sách

04 Tháng Ba 201312:00 SA(Xem: 164953)

THỜI CẮP SÁCH
img1

Tôi xa Đà Lạt khi vừa học xong lớp 10C tại trường Bùi thị Xuân để theo gia đình về Nha Trang... Đúng vào lúc tôi đang "yêu" Đàlạt và bắt đầu biết "mộng mơ”, mặc dù lúc ấy chỉ là một nữ sinh "ngây ngô". Thật sự tôi cảm thấy mình ngây ngô lắm, so với những bạn cùng lớp, cùng lứa tuổi. Vì "Thuở ấy nào tôi có hiểu gì" ngoài chuyện ăn học và sống yên ấm dưới mái gia đình, với bố mẹ, anh em. Chỉ nguyên những sinh hoạt trong gia đình đủ làm tôi "bận rộn". Hàng ngày, cắp sách đến trường, lo chuyện bài vở. Về nhà, ngoài chuyện học bài làm bài, lại còn "công tác" trông em - để mẹ tôi lo việc nhà và cửa tiệm. 

Phố Phường

Hồi tôi học lớp đệ tứ tại trường Bùi thị Xuân cũng là năm mẹ tôi mở tiệm. Tên tiệm là YênSơn, bán gạo một bên, bán trà Bảo Lộc và hoa lan một bên. Tiệm nằm ở khu Hoà Bình, truớccửa chợ Hoà Bình, cạnh tiệm bánh mì cũng tên là "Hoà Bình"vừa mớí mở. Theo mẹ tôi nóithì địa điểm này rất thuận tiện cho các bà nội trợ đi phố xong ghé vào mua gaọ và nướcmắm. Lý do để mẹ tôi mở tiệm rất tình cờ. Nhân một chuyến đi chơi Phan Thiết thăm bà bácruột của tôi, mẹ tôi gặp một nhà sản xuất nước mắm Vạn Hương, rất nổi tiếng bấy giờ.

Bà cụ Vạn Hương hồi ấy cũng cỡ tuổi me tôi, khoảng chừng bốn mươi và có óc kinh doanh. Bà cụ trông người rất nho nhã, tử tế và tính tình cũng hợp với mẹ tôi. Một thời gian sau hai cụ kết nghĩa chị em. Bà Vạn Hương có đề nghị muốn có thêm đại lý nước mắm ở Đalat. Thấy me tôi có vẻ thành thạo, nên cũng rất vui để hợp tác. Và ngoài sự “hợp tác” còn là cái cảm tình quý hoá nhau. Thế là me tôi "kết" ngay. Đấy! các cụ ngày xưa cũng "hay" thế đấy. Tôi biết, dưới mắt tôi, và qua lời kể của bà, tôi thấy mẹ là một người có tâm hồn nhạy bén và thích văn thơ. Nhưng mặt khác, cũng rất thực tế, đảm đang. Đúng vào lúc ấy, dãy phố mới của khu hoà Bình bắt đầu mở; và mẹ tôi thăm dò để thuê một căn. Theo mẹ tôi nói - khi cụ ở tuổi còn đang hoạt động - chỉ muốn làm một cái gì chứ không thích rảnh - cửa tiệm của bà bán gạo, nước mắm cho "mấy bà vợ công chức" ...rất tiện cho các bà đi phố rồi ghé qua.

Hiểu tâm lý và nhu cầu của khách hang và cũng vì gian hàng khá rộng rãi khang trang, mẹ tôi bày biện cho trang nhã. Với tư cách đại lý gạo nước mắm, bà chỉ bày chừng chục bao gạo và chục lu nước mắm tượng trưng cho đủ mặt hàng một bên. Bên kia là gian tạp hoá nhưng chỉ bán những "món" đặc trưng của Đàlạt, từ trà Bảo Lộc đến lan rừng. Đứng từ cửa nhìn vào phiá bên trái là quầy tủ kính, nơi mẹ tôi bày những hộp trà, gói trà lớn nhỏ vào môt dãy. Dãy kia là những chiếc áo len đan kiểu mới rất mỹ thuật nằm gọn ghẽ trong tủ kính cao mà tôi thường ngắm một cách “thèm thuồng”. Trước cửa tiệm treo những giỏ lan rừng trông thật trang nhã. Ở giưã dành một lối đi rộng rãi nên khi bước chân vào tiệm, khách cảm thấy thoáng mát chứ không thấy nhiều thứ linh tinh như những tiệm khác.

Mẹ tôi thưòng tự hào về mắt mỹ thuật của bà. Khách của cụ ngoài những người sống quanh khu vực, còn đa số là các bà nội trợ, phu nhân của các vị công chức trong, ngoài trường Trần Hưng Đạo. Các cụ có cái thú gặp gỡ, trà nước ngay ở tiệm một cách vui vẻ. Khách nhận thấy đây là nơi dừng chân thoải mái để mua những món rất thực dụng mà không phải chen chúc, căng thẳng. Buổi tối tôi thường được me tôi tin cậy, “cử” tôi ở lại "trông tiệm" cùng với bà chị họ của tôi. Hai chị em ở lại tiệm buổi tối, tôi được yên tĩnh học hành. Tiệm có lầu để ở, có phòng ngủ, phòng khách, và bếp đầy đủ tiện nghi. Lại có cả balcony nhìn ra đường,rất tiện cho việc... ăn hàng buồi. Tôi đi đên trường cũng gần hơn. Me tôi hồi ấy có khi về nhà buổi tối nếu hôm sau không phải bân rộn sớm, có khi bà ở lại tiệm. Ở tiệm hay ở nhà, sáng nào bà cũng dậy sớm tập thể dục và tụng kinh niệm Phật trước khi tiệm mở cửa. Khi nào bà về nhà - lúc ấy nhà vẫn ở trong trường Trần Hưng Đạo - thì chúng tôi đúng là "gà vọc niêu tôm" ("gà mọc đuôi tôm"). Cho nên gọi là trông tiệm chứ kỳ thực chúng tôi đâu có phải làm gì. Tôi còn nhớ buổi tối khu phố thật yên tĩnh. Chỉ có tiếng rao lanh lảnh nửa đêm của chị bán chè bột khoai nghe văng vẳng “Ai ăn chè bột khoai bún tàu, đậu xanh nước dừa đường cát hô...ông”, hay tiếng rao đầy quyến rũ của gánh phở rong, mì rong. Chị em tôi thường thường mỗi khi nghe tiếng rao là lại "cầm lòng không đậu" nên bảo nhau sáng chế ra cách ăn hàng không phải mở cửa duới nhà vào ban đêm. Thế là một cái giỏ tròn được buộc chăt hai bên vào hai sợi thắt nối hai đầu lại với nhau rất an toàn để thả xuống đường cùng với số tiền trả cho hàng chè, hàng phở. Thật là thú vị. Bây giờ nghĩ lại mà thèm sống lại những ngày ấy. 

Bạn cũ 

Sở dĩ tôi nhắc đến cửa tiệm của me tôi vì nó có môt sự gắn bó với tôi khi bước chân sang Bùi thị Xuân. Tôi không phải đi bộ từ trường Trần Hưng Đạo bằng lối tắt như tôi đã làm thế một năm trước đó. Tôi cắp cặp đến trường bằng đường Hàm Nghi. Con đường quanh co dẫn tôi đến Bùi thị Xuân thay vì phải băng qua những ngọn đồi để đi lối tắt sang trường BTX. Nhưng đẹp hơn cả vẫn là những kỷ niệm khi bạn bè rủ nhau về cùng đường. Tôi vẫn chưa quên những buổi trời mưa nhỏ hạt đuờng phố ướt át, lạnh lẽo. Chúng tôi đi về trên con đường Hàm Nghi quen thuôc, ngang qua một dãy những cửa tiệm mà gìờ đây tôi không nhớ hết tên. Tôi nhớ những người bạn cùng lớp, đi về cùng đường toàn là những người đẹp đã một thời được ái mộ - mỗi người một vẻ...như Kim Chi và Oanh Trảo. Kim Chi cao cao, “điệu” và duyên dáng. Oanh Trảo thanh tao, mái tóc dài liêu trai, gương mặt mảnh mai....thùy mị và đứng đắn được nhiều người ái mộ vì “mỏng mày hay hạt”.

Một chị bạn nữa là Lê Thị Hoa cũng điệu, và dễ thương với mái tóc đen và dài, da trắng môi hồng mà tôi nghĩ chắc cũng có nhiều anh ngấm nghé. Nói đến người đẹp lớp tôi thì không thể không nhớ đến Mỵ Hượng và CôngTằngTôn Nữ Xuân Ninh. Hai cô bạn thân nhau như cặp bài trùng. Người đẹp Mỵ Hương hay đi với người đẹp Xuân Ninh - Mỗi người một vẻ. Riêng Mỵ Hương đã từng đóng vai Trưng Trắc. Một người khác không kém quan trọng là Phùng Diệm Quỳnh, cô bạn khả ái, tươi vui hay cười. Diệm Quỳnh ngày ấy rất “ngoan”, rất ân cần và đậm đà tình nghĩa. Cách đây hơn một năm, khi tôi gặp lại Quỳnh trong kỳ Hội Ngộ ở Houston, dù chỉ là trong giây phút ngắn ngủi vì Quỳnh không đi cruise, nhưng nàng Quỳnh bây giờ vẫn thế, vẫn dễ thương như ngày nào. Cùng lớp với chúng tôi còn có Tăng Tuyết Khanh mà nếu không nhắc tới thì cũng không trọn vẹn.Tuyết Khanh đẹp một cách giản dị nhưng khi trang điểm thì lại nổi bật hơn cả. Thế mới lạ; vì nét trời cho đã có sẵn. Xuân Ninh ngồi cạnh tôi, cô nàng thường hay vẽ hình người đẹp, nhìn profile với mũi, miệng nhìn nghiêng trông thấy hay hay. Tôi cũng bắt chước Xuân Ninh vẽ kiểu như thế, nhưng chắc chắn không thể bằng. Hình như là Xuân Ninh phác hoạ Mỵ Hương.

Một người đẹp khác trong lớp không thể không nhắc tới là Nguyễn Thị Hiếu từ trường Trần Hưng Đạo chuyển qua, nàng rất duyên dáng đã “hội nhập” ngay với cái “xã hội dân sự” nhỏ bé đầy những tinh hoa ấy của trường Bùi thị Xuân. Hiếu đặc biệt là có duyên với hai cái lỗ dùi bên mép, hi vọng bây giờ vẫn còn. Hiếu thưòng dí dỏm và hay cuời “khanh khách” nghe rất vui, pha tí nghịch ngợm. Tôi cũng còn nhớ Bùi Thị Huệ với nước da trắng, môi đỏ. Huệ rất phóng khoáng và quảng giao. Vào năm đệ tam lớp chúng tôi có thêm Kim Cúc mới từ Sàigòn lên học. Cúc nghịch một cây, nói năng hoạt bát, dạn dĩ.... Một bạn nữa khá đặc biệt là Nguyễn Thị Mai. Hồi ấy ai cũng bảo tôi giống Mai vì hai đứa có chiều cao tầm thước giống nhau. Mai hơn tôi một tuổi nên được coi là “chị”. Mai có vẻ thạo đời, thực tế và “khôn” hơn tôi. Hình như sau đó Mai thôi học hay đi đâu mà tôi không nhớ rõ. Có một điều tôi nhớ rõ là tôi có cái may mắn đuọc “lọt” vào một lớp học có nhiều người đẹp và lại học giỏi. Giờ này tôi còn hình dung nét của từng người bạn một. Đúng là “mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”... 

Thầy xưa 

Nói đến trường Bùi thị Xuân mà không nhắc đến thầy cô là một điều thiếu sót. Các thầy cô tôi thuở tôi còn học ở truờng Trần Hưng Đạo và cả sau này ở Bùi thị Xuân là những bậc thầy cô khả kính. Làm sao tôi có thể quên được hình ảnh cô giáo tôi, cô Hiển - dạy Pháp Văn khi tôi ở Đệ Thất, Đệ Lục. Cô hình dáng gầy gò, thanh tao, đặc biệt hiền và nghiêm. Cô rất quý bọn tôi và lên tiếng rầy la những nam sinh hay buông lời trêu đùa “học sinh con gái” ở trong lớp. Có một anh tên Hiền thường vui tính và thích chọc đùa nữ sinh, nên hay nói những lời bông đùa “ngoa” rằng: “Cô ơi cô, con gái hư lắm, giết chết con gái đi”. Thế là anh chàng lại bị cô Hiển bắt phải giữ im lặng trong lớp và bị la rằng “chỉ được cái nỏ mồm thôi”. Thực ra chúng tôi biết mấy “nam sinh cùng lớp” này rất vui tính và chỉ đùa cho lớp sống động thêm và cả cô cũng biết thế. Nhưng với cuơng vị là cô giáo, cô Hiển vẫn phải nói những điều cần nói để giữ trật tự trong lớp và cũng là để các nam sinh “liệu” mà tỏ thái độ nghiêm trang hơn. Cô luôn luôn bênh vực mấy em nữ sinh vì biết mấy em “ngoan”. Cô Hiển là vợ thầy Nguyễn Đức Kim dạy Toán. Thầy có một phương pháp dạy Toán rất hay với một phong cách đặc biệt và thoải mái, khiến học trò... dở Toán như tôi cũng không bị “căng thẳng” vì môn này. Tôi cũng không quên tất cả các thầy cô đã dạy tôi từ những năm học Trung học đệ nhất cấp cho đến khi tôi vừa bước chân vào đệ nhị cấp. Dạy Việt văn thì có thầy Nguyễn Vỹ. Thầy thật nghiêm, ít nói, đặc biệt là rất trầm lặng. Nhiều lúc chúng tôi thấy thầy trầm lặng và buồn buồn một cách khó hiểu. Ít lâu sau thầy nghỉ dạy. Chúng tôi nghe phong thanh hình như Thầy đi “làm cách mạng”. Sau đó, chúng tôi không được tin thầy nữa. Về nhạc thì có thầy Phạm đình Tín. Thầy Tín rất hiền và dễ chịu, vừa dạy vẽ vừa dạy nhạc. Đến khi chúng tôi được sang học ờ trường Bùi thị Xuân thì tôi lại được học với các thầy cô khác.

Hiệu trưởng truờng Bùi thị Xuân bấy giờ là cô Nguyễn Văn Đãi. Cô là vợ của Thầy Nguyễn Văn Đãi - làm Phó Thị Truởng thành phố Đàlạt. Cô có tên rất hay - Nguyễn Khoa Diệu Liễu. Cô Đãi lúc ấy làm giáo sư hướng dẫn lớp tôi. Cô dạy Việt Văn. Vào những lúc lớp học có giây phút rảnh rỗi, cô thường hay đọc cho chúng tôi những bài trong Nam Phong Tạp Chí, Đông Dưong Tạp Chí để cho chúng tôi hiểu rõ một giai đoạn văn học của nước nhà. Lúc khác, cô thuờng dùng ít phút trống để dạy cho chúng tôi những bài hát tiếng Pháp và tiếng Anh mà nay đã quên hết, chỉ còn nhớ bài “One Day” mà tôi rất thích. Cô yêu văn chương, say mê những áng văn học thời tiền bán thế kỷ XX. Giọng cô ấm, mặt hiền từ và cô ân cần với từng học sinh. Cô thương bọn nữ sinh ngoan ngoãn và học giỏi. Cô “cưng” Tăng Tuyết Khanh nhất thì phải. Tôi nghe nói thế, chả biết có đúng không nhưng nếu như vậy cũng phải. Nhưng, nói chung thì cô yêu tất cả. Chắc chắn là cô không ghét đứa nào.Cứ xem vẻ nhìn nhân ái của cô thì đủ biết.

Chúng tôi rất thương cô Đãi. Bao nhiêu năm trời, cũng như nhiều bạn khác, tôi thỉnh thoảng vẫn nghĩ đến cô mà không có dịp thăm viếng. Nghe nói các bạn ở Cali còn có dịp thăm cô. Ngày đó tôi còn ở Ottawa, khá xa, nên chưa đi được ngay. Có lần, nhân nói chuyện với giáo sư Trần Phương Thu, lớp đàn chị của tôi, thì đươc biết chị cũng là học trò cô Đãi, cũng học những thầy cô giống như tôi, nhưng chị ở lớp lớn hơn. Tôi cảm thấy vui mừng khi đuợc gặp lại người Đàlạt ở Ottawa. Khi rời xa Đà Lạt vào cuối năm đệ tam, tôi vẫn còn mang nặng trong lòng cảm tình quý mến đối với một số thầy cô. Đặc biệt là Cô Cẩm Anh, một trong những giáo sư tôi rất yêu mến, kính trọng. Cô đẹp và hiền. Sau này, khi tôi đã đi dạy ờ trường Nữ Trung Học Nha Trang, nhân một lần về làm Giám khảo Kỳ thi Văn Chương Phụ Nữ Toàn quốc, tôi có được gặp cô Cẩm Anh tại trường Nữ Trung Học Trưng Vương. Lúc đó từ Bùi thị Xuân, cô đã xin đổi về dạy tại trường Trưng Vương được vài năm. Gặp lại cô thật vui... Từ bấy đến nay, thời gian đã lâu quá, bây giờ chắc chắn cô đã quên. Ngày ấy tôi đâu có biết liên lạc để được gắn bó với Thầy, với bạn “chặt chẽ” được như bây giờ. Năm đệ tứ chúng tôi học với những thầy cô khác; như cô Xuân An dạy Anh Văn, thầy Phúc dạy Pháp Văn. Lên đệ tam lại có cô Trương Mộng Ngọc dạy Sử Điạ. Cô cũng mới đổi về; người cao cao gầy gầy, mặt rất đẹp và thanh. Anh Văn đệ tam thì có thầy Tạ Tất Thắng. Thầy mới ở Úc về, dạy giỏi, vui và có duyên nên học sinh rất quý. Những năm trước đó nghe tiếng Thầy, chúng tôi ao ước được hoc với thầy. May mắn thay, năm đó thầy dạy lớp chúng tôi. Tôi còn nhớ năm đệ tam thầy dạy cả văn học sử Anh. Tác phẩm tôi còn nhớ mãi là “She stoops to conquer”`(cúi xuống để chinh phục) - mà tôi thấy rất thú vị và thấm thiá với khía cạnh triết lý của tác phẩm. Đó là triết lý về sự khôn ngoan, nhún nhường để có thể thắng hoàn cảnh hay đối phương.

Đường Hàm Nghi dẫn tôi đến trường mỗi ngày tuy không đông đúc như những con đường khác nhưng vẫn làm tôi nhớ. Dù đã bao năm xa Đalat nhưng tôi vẫn không quên được tiệm Phở Bằng và Phở Tín nổi tiếng vói món phở áp chảo mà cả gia đình tôi đều thích. Cuối tuần chúng tôi thường được bố mẹ dẫn đi ăn tiệm.Trời lạnh lẽo, bước chân vào tiệm chờ món phở áp chảo bưng ra, ăn dòn tan bên ngoài nhưng vẫn mềm mại và nóng hổi bên trong cộng thêm nước sauce với đủ mọi thứ rau, cà chua, chouffleur, cà rốt, hành tây, tỏi tây, bắp cải v.v.... với mùì tiêu bốc lên thơm lừng...

Điều làm tôi nhớ mãi Đàlat là những chuỗi ngày đi học với những kỷ niệm rất đơn sơ, êm đềm mà giờ đây chỉ còn là những hình ảnh mơ hồ của mấy chục năm về trước. Tôi xa Đàlat đã lâu nên không chứng kiến được những cảnh phũ phàng của “ngày mất nước”. Cho nên kỷ niệm về Đalat vẫn còn nên thơ, vẫn đẹp nguyên vẹn trong tôi. Tuy đã xa cách nhìều năm nhưng Đalat vẫn còn rất đậm nét.Tôi trân quý những kỷ niệm đó, kỷ niêm của một thời cắp sách. Kỷ niệm của tôi "có" trong cái "không", và vẫn "không có gì" trong cái "có" đó... Nói thế để thấy rằng mỗi người lại có những kỷ niệm riêng, một tâm trạng riêng cũng như cảm xúc riêng. Những kỷ niệm ấy có thể có ý nghĩa với người này nhưng lại vô nghĩa với người kia. Điều quan trọng là mình thấy gì, cảm gì và biết quý hoá, trân trọng những gì mình có.

Hồi ấy như đã nói, ngoài chuyện học hành tôi chỉ biết "trông em" - quên, lại còn thích nấu ăn nữa chứ - Tôi thích “làm bếp” chỉ vì chị bếp hay xào nhiều dầu mỡ mà tôi không “chịu” được. ế là phải xin cho “em” được xào . Đúng là “muốn ăn thì lăn vào bếp”. Thực sự thì tôi thấy cái thú trong việc này. Ngoài ra, lúc rảnh thường hay nghêu ngao hát và mê nghe nhạc, thích chép và thưởng thức những bài thơ của những thi sĩ thời tiền chiến. THơ Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng lư, Thế Lữ, Đinh Hùng, Nguyễn Bính v.v... tôi không bỏ qua. Nhưng mới mẻ hơn, độc đáo hơn - vào lúc ấy - là thơ TTKH rồi Nhất Tuấn, nhẹ nhàng, mới mẻ và rất...Đà lạt. Các bạn tôi hồi đó nàng nào cũng ngâm nga câu thơ ân cần:

 Noel xưa anh nhớ,
 Khi hãy còn yêu nhau,
 Nhà thờ nơi cuối phố,
 Thấp thoáng sau hàng dâu
 Em cùng anh đi lễ,
 Cùng chung lời nguyện cầu.
 Mimosa bừng nở,
 Đẹp như tình ban đầu....

Mặc dù hồi ấy tôi cũng chưa biết “theo mốt” để có mối “tình đầu” cũng như chẳng có “tình cuối” gì vội, tôi chỉ hơi “vương vấn” nhẹ nhàng một chút thôi; nhưng vẫn thấy thơ Nhất Tuấn là ...có lý. Nữ sinh Đàlat thời ấy mấy ai mà không biết thơ Nhất Tuấn và thơ TTKH. Nhất là đối với những ai đã biết hẹn hò? Riêng tôi, tôi thích thơ Nhất Tuấn vì vần điệu, có hoa mimosa tôi thích. Thuần túy chỉ có thế. Nếu thơ TTKH là sầu khổ thì thơ Nhất Tuấn lại dễ thương, trong sáng và hi vọng. Bạn bè tôi thường thuộc nằm lòng mấy câu thơ “thời thượng” đầy gợi cảm và gợi hình của thi sĩ Nhất Tuấn: “Áo tím quần đen dáng dịu hiền. Nơ xanh buộc tóc lại thêm duyên”. Tôi cũng như các bạn khác, thường chép lại thơ vào môt tập riêng để lúc rảnh ngâm nga, thưởng thức. Không hiểu sao tôi yêu thơ, yêu nhạc đến thế! Cứ mỗi lần cả gia đình tôi đi ciné hoặc xem cải lương Thành Được-Thanh Nga v.v... nhằm hôm có nhạc yêu cầu là tôi thoái thác để ở nhà nghe, nhất là nghe ban Hợp Ca Thăng Long.Tôi mê Thái Thanh từ hồi còn nhỏ, khi bắt đầu biết yêu thích tân nhạc. Lúc bấy giờ chép thơ dường như đã trở thành cái “mode” của nữ sinh BTX nói riêng, và có lẽ là chung cho tất cả các nữ sinh một thời. Nhưng với riêng tôi, những "vần thơ sầu rụng" ấy đã theo tôi suốt chiều dài của đời học sinh và sinh viên. Thơ tiền chiến, nhạc tiền chiến là một cái thú khó bỏ. Ngoài ra, còn sách Tự Lực Văn Đoàn mà tôi đọc say sưa, nhưng phải đọc ... lén ba tôi. Những sách viết chung của Khái Hưng và Nhất Linh từ “Đôi Bạn”, “Đoạn Tuyệt” cho đến “Nửa Chừng Xuân'. Nào là “Lạnh Lùng”, “Gánh Hàng Hoa”, “Đời Mưa Gió”....đủ cả “Thập loại chúng .truyện”...

Không hiểu tại sao, lúc ấy trong lòng tôi chẳng chút ưu tư, cũng không biết nhõng nhẽo, đòi hỏi gì cả. Tôi còn nhớ khi đã lên lớp đệ tứ thì tôi bắt đầu thấy mơ mộng rồi. Còn bạn tôi thì một vài nàng bắt đầu dấu hiệu muốn làm “cách mạng” hay “nổi loạn”. Có lẽ phải như thế mới “sống động” hơn. Nhưng, cũng “may” là những bạn ấy lại không nằm trong nhóm mấy cô bạn ngoan hiền, hoc giỏi kể trên. Còn tôi thì chằng có gì... đáng nói. Có chăng chỉ là một sự cảm nhận về những năm tháng của tuổi học trò mà bây giờ nhớ lại sao thấy thật êm đềm, không sóng gió. Nhiều lúc nhớ lại cả một quãng thời niên thiếu tôi thấy rất quý...Thật quả "Ôi êm ái là thời gian cắp sách” vì cuộc đời chưa có gì là vất vả, tôi chưa kịp thấy khổ sở bao giờ... 

Bây Giờ Và Ở Đây 

Được anh Hoàng Kim Châu,Trưởng Ban Báo chí nhắc viết bài tôi rất phấn khởi, rất háo hức để viết; nhưng nhiều lúc vì công việc bề bộn, tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Cuộc đời tôi, chỉ nguyên quãng đời học sinh thôi, cũng đã đầy ắp những kỷ niệm. Mà những kỷ niệm ấy - đúng như nhà văn Thanh Tịnh nói - tôi chưa lần nào ghi lên giấy, nhưng thực ra đã “ghi” trong u rất nhiều. Thế mà mỗi lần định viết, tôi lại “ấp úng không ra được nửa lờì”. Mà đã viết, thì một bài thành hai. Cũng chỉ vì toàn những ý nghĩ lung tung xô đẩy, chen lấn, nên tôi quên cả thời gian, không gian. Chỉ viết, và viết, chẳng suy nghĩ...

Hình như tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao ...lạ, sao “thiên di”. Vì thế nên cứ dời đổi luôn. Nhưng cũng chính vì sự dời đổi đó mà tôi có lắm kỷ niệm; mà những kỷ niêm của tôi thường “rải rác” mỗi nơi một ít - toàn là những kỷ niệm của ngây ngô, khờ khạo. Nếu nói theo tử vi thì cung “Thiên di” của tôi lại rất tốt. Và vì tốt, nên suốt đời ... lưu động. Mãi cho đến khi sang Canada, sống tại Ottawa tôi mới có dịp “dừng bước giang hồ”, ở lâu một chút: 13 năm! Những tưởng thế là xong. Nhưng rồi, lại một lần nữa, tôi tình cờ dời chân đến miền núí cao, biển xanh của Vancouver đúng vào lúc bố mẹ tôi dời ra đó, khi một trong hai ngưòi anh của tôi đổi ra mở phòng mạch tại Vancouver. Lại cũng đúng vào lúc con gái tôi muốn theo chân cô bạn cùng lớp, ra ngoài này học tiếp, vì nó rất thích biển. Thế là tôi lại một lần nữa... đi xa... Đành nghĩ: dù sao ở nơi xứ lạ cũng có ngưòi thân chung quanh. Từ những ngày ở Việt Nam, nơi tôi ở lâu nhất là Đàlat...mà cũng chỉ có 5 năm! Và bây giờ đã 16 năm ở Vancouver. Nhiều lúc nhớ Ottawa, nơi tôi đặt chân đến đầu tiên, nơi có Cộng đồng rất thân thuộc, nơi cha mẹ anh em tôi sống ở đó ngay từ buổi đầu tị nạn, như là mối tình đầu, tôi chỉ muốn quay về lại “bên ấy”.

img2

Nhưng rồi, ở đâu cũng có những sinh hoạt gắn bó, ở đâu cũng tìm ra tình nhân ái, những cái rất chung và rất riêng. Và nhất là ở đâu cũng có thể tạo ra niềm an lạc cho tâm hồn là ở đó có hạnh phúc. Trong hoàn cảnh riêng, dù không ở một chổ, lúc nào và ở đâu tôi cũng cảm thấy hạnh phúc với chính mình. Đi trên những con đường lên cao, xuống thấp làm tôi nhớ những con dốc Đalạt. Vì...không có dốc không phải là Đàlat. Không có dốc, không phải là Vancouver. Thời tiết lạnh và khô ráo, có nắng vàng - một điều rất hiếm ở Vancouver - làm tôi thấy nhớ Đàlat nhiều. Nhìn lại đời mình, trừ những năm “trời đất nổi cơn gió buị” không tránh khỏi, nói chung là một chuỗi ngày hạnh phúc, một thứ “hạnh phúc lang thang”...như mây. Đơn giản. Và, hạnh phúc lớn nhất, chân thật nhất, đáng quý nhất lúc này là Hội Ngộ. Hội Ngộ để được gặp lại bạn bè cũ, quen thêm bạn bè mới, và là những gắn bó thắm thiết chân thành của tình bạn, sau khi ai cũng đã từng “trải qua một cuộc bể dâu”...Đó là những kỷ niêm êm đềm không dễ gì mua đươc.

Nguyễn thị Ngọc Dung
Vancouver, Một Ngày Mùa Đông 2011
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn