Nguyễn-Khoa Diệu-Liễu 1924 - 2011 * "Điếu văn của Nguyễn-Quí-Đức , thứ nam

08 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 78114)

Nguyn-Khoa Diu-Liu

1924 - 2011

 

btx_truong2-content

 

(LTS: GS Nguyễn Khoa Diệu Liễu, nguyên Hiệu Trưởng Trung Học Bùi Thị Xuân Dalat,

Phu nhân của cụ ông Nguyễn Văn Đãi, nguyên Phó Thị Trưởng thành phố Dalat.

Cô mất ngày 28 tháng 6 năm 2011 tại Tam Đảo, Việt Nam)

Điếu văn của Nguyễn-Quí-Đức, Thứ nam của Giáo Sư Nguyễn Khoa Diệu Liễu


Theo tc lệ ở Huế, chúng tôi gi bà là “M”.

Chúng tôi may mắn được gọi bà như thế, may mắn có được bà làm mẹ. Chúng tôi là những đứa con không bao giờ thiếu vắng tình thương của bà, ngay cả khi ở xa nửa vòng trái đất.

Cuộc đời của bà rất nhiều đổi thay—trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Có một điều không thay đổi—bà luôn luôn can trường: sóng gió không xóa được nụ cười bà dành cho chồng, con, người thân, và cả những người mới gặp. Bà, như Cha chúng tôi, đã độ lượng với người chung quanh, và cả với những thách đố của đất nước.

Thế kỷ 20 là thế kỷ đã thử thách, rèn luyện bao nhiêu thế hệ con dân Việt Nam.

Mạ và Cha thuộc thế kỷ 20, và như bao người, Mạ và Cha đã trải qua nhiều sóng gió thời cuộc.

Ở Huế, thời còn con gái, Mạ sống trong sự đùm bọc thương yêu của Ông Bà chúng tôi và các anh chị em của bà. Mạ cũng trải qua những sợ hãi với những đội quân viễn chinh, những đe dọa trước những cố gắng của Ông chúng tôi để gầy dựng đất nước độc lập. Ông cũng còn là một nhà giáo, và Bà cũng theo dấu chân ông để giữ truyền thống gia đình, đóng góp cho ngành giáo dục, trước tiên là ở trường Đồng Khánh của các nữ sinh áo tím cạnh dòng sông Hương. Cuối thập niên 1940, theo Ông ra Hà Nội, Mạ và Cha hân hoan với những ngày đầu cưới hỏi, và niềm kỳ vọng được sống an lành cạnh nhau. Họ hân hoan với người con đầu lòng, chào đời tại Hà Nội.

Đất nước lại đầy bão táp. Cha Mạ cố tránh chiến chinh, cam kết đào tạo các người trẻ, và nuôi dạy chúng tôi. Để sống lương thiện, trong trắng trong thời nhiễu nhương, họ chấp nhận nhiều, và chỉ làm những việc dân sự trong một nước đã thấm mùi binh đao, đạn dược. Mạ đi dạy và trông coi trường nữ sinh Bùi Thị Xuân ở Đà Lạt. Cha đi làm ở huyện xa, Mạ lo cho con học hành, và bảo bọc cho một người con gái suy yếu tâm thần.

S phân ly ca đt nưc cũng là

phân ly của Cha Mạ. Mạ cứ nuôi con, hài hòa với đồng sự, giúp đỡ nạn nhân chiến cuộc, và không xao lãng nhiệm vụ nhà giáo trong suốt 12 năm Cha bị giam cầm ở vùng núi Việt Bắc vì những ý tưởng và lý tưởng không xuôi chiều. Đó là sau Tết Mậu Thân 1968 ở Đà Nẳng, nơi Mạ gầy dựng trường nữ trung học Hồng Đức và trở thành một nữ nhân sĩ tích cực trong công tác xã hội và giáo dục.

Hết chiến tranh, Mạ vào Sàigòn, tiếp tục phấn đấu, làm công nhân hãng phấn. Rồi Mạ lại phải chịu tang con gái, trước khi chế độ trả tự do cho Cha chúng tôi 5 năm sau chiến thắng. Và như hàng vạn người phụ nữ Việt Nam, bà tiếp tục tần tảo cho đến khi được đoàn tụ với các con đã ra nước ngoài. Không trở lại được với bảng phấn, bục gỗ, ở California Mạ xin làm việc xã hội, giúp những bà mẹ trẻ người Việt đang cố xây dựng cuộc sống ở Mỹ. Lúc đó Mạ 60 tuổi.

Sau khi ngh hưu M sng trm lng

trong lúc Cha kể lại trên trang giấy những chịu đựng cá nhân, chuyện tù đày, và chuyện người Việt tha hương.

Thế kỷ 20 khép lại: Mạ cầm tay Cha hằng ngày trong cơn bịnh, rồi Mạ vuốt mắt ông. Mạ lại lui tới với cái bóng của chính mình. Rồi Mạ lâm bịnh, trí não dần dà bị huỷ hoại.

Đưa bà trở về Việt Nam, chúng tôi cố gắng tạo cho Mạ những thời khắc an bình, tìm lại tiếng Việt thân yêu, tình láng giềng ở Hà Nội, rồi không khí sơn cước Tam Đảo với núi đồi xanh tươi như Đà Lạt, nơi Mạ đã có giai đoạn yên bình.

Khi cơn bịnh nhường cho bà ít giây phút nhẹ trí, Mạ lại vẫn nở nụ cười, lại giương ánh mắt sáng trong, không lộ dấu nghị lực phi thường. Mạ lại bình thản đến lúc chịu thua cơn bịnh. Mạ bình tĩnh trút hơi thở cuối sau thìa sữa chua, lát chuối buổi sáng.

Mạ để lại khoảng trống chói chang. Ai không biết bà thì may mắn không phải gánh chịu cái khoảng trống đó. Nhưng biết Mạ là biết bà đã trung thành với ý chí can trường, không oán trách ngang trái, không cau có với hoàn cảnh, cười đón tất cả cho đến hơi thở cuối cùng.

Ở Huế, Đà Nẳng, Đà Lạt, Tam Đảo, ở đây, mãi mãi về sau, có một người tươi cười, hy sinh, yêu thương—một người đàn bà Huế dai dẵng và tuyệt diệu. 

Mạ.



Nguyễn-Khoa Diệu Liễu

1924-2011

 

In the custom of Hue, we called our mother “Mạ.”

 We were lucky to call her so, lucky to have her as our mother. We were children never without her love, even when we were half a world away.

Her life was full of changes—in ruthless circumstances. One thing didn’t change—she was always brave, and the storms in life never could destroy the smiles she gave to her husband, her children, her loved ones, and those she’d just met. She, like our Dad, was generous to those around her, and remained calm in the face of the challenges facing their nation.

The 20th century tested and trained generations of Vietnamese.

Ma and Cha—our Dad—belonged to that century, and like countless others, they suffered through the tempestuous events of the time.

In Hue, Mạ grew up with the persistent love of her parents and siblings. Mạ also knew terror from expeditionary troops, and the threats against our grandfather’s efforts to help build an independent nation. He was an educator, and she followed in his footsteps, carrying a family tradition of contributing to education, first at Dong Khanh high school for girls, with their purple tunics, by the bank of the Perfume River. By the end of the 1940s, following her father to Hanoi, Mạ and Cha were thrilled with their first days of marriage, and their hopes to be together in calmness. They were thrilled with their first-born, who began life in Hanoi.

The country was again in tempests. Cha and Mạ tried to avoid the war, committing themselves to the education of the young, and ours. To live with a pure conscience in a time of mayhem, they accepted plenty, and stuck to civilian jobs when the country was drenched in the smell of gunpowder and the sound of rifles. Mạ ran and taught at the Bui Thi Xuan Girls’ School in Dalat. Cha worked in a distant district, Mạ sent us to school, and took care of a daughter with feeble mental conditions.

The separation of the nation also became theirs. She continued raising us, stayed in harmony with colleagues, helped war victims, and never wavered in her duties as an educator—while Cha was imprisoned for 12 years in the mountains of North Viet Nam because of his beliefs and ideals. This was after the events Tet in 1968 in Danang, where Mạ had built the Hong Duc Girls’ School and eventually became a civic leader.

When the war ended, Mạ went to Saigon, and worked in a chalk factory. Then she mourned her daughter who died before the regime freed Cha, five years after their victory. And like thousands of Vietnamese women, she kept toiling until she was allowed to emigrate and join her children who had gone abroad. Unable to return to her blackboard, she became a social worker, helping young Vietnamese mothers trying to build a new life in California. Mạ was then 60.

After retiring, Mạ lived quietly with Cha as he began to retell on the page his private ordeals, the story of prison, and the stories of Vietnamese away from home.

The 20th century came to a close: Mạ held Cha’s hands day after day on his sick bed. Then she closed his eyes. Mạ then dealt with her own shadow until she fell ill, little by little her mind being devoured by Alzheimer’s.

Bringing Mạ back to Viet Nam was our effort to give her a measure of serenity, a chance to rediscover her beloved language, neighborly friendship in Ha Noi, and finally the mountain air of Tam Dao with green hills reminiscent of Dalat, where she had had a period of peace.

Mạ has left an immense, unspeakable void. Those who don’t know her are fortunate to not suffer that void. But knowing Mạ is to know how loyal she was to her courageous attitudes, never complaining of her bitter fate, never angry with her situation, smiling always to welcome everything until her last breathe.

In Hue and Danang, in Dalat and Tam Dao, in California, here, and forever, there’s a cheerful, accepting, and loving person—an outstanding woman from Hue, always fiercely alive, always magnificent.

Mạ.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn